Chia sẻ kinh nghiệm
Cập nhật ngày: 14/08/2015, 9:31 SA - Số lần xem: 1350
Tài liệu tham khảo "Các tổ chức nông dân với việc cải thiện chất lượng sản xuất nông nghiệp"

Các tổ chức nông dân với việc cải thiện chất lượng sản xuất nông nghiệp

Oxfam Hong Kong – Chương trình nông nghiệp sinh thái  Hương thọ -  Hà Tĩnh

 

 

 

 

 

Các tổ chức nông dân với việc cải thiện chất lượng sản xuất nông nghiệp

 

Thực hiện: Đỗ Xuân Hạnh

Tình nguyện viên chương trình                                        

 

 

 

 

Khung tài liệu:

Phần 1: Những kiến nghị về tổ chức nông dân

Phần 2: Hoạt động trong các tổ chức nông dân

Phần 3: Tổng hợp quá trình và phương pháp

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hà Tĩnh - năm 2004

 

 

Phần 1: Những kiến nghị về tổ chức nông dân

 

Vấn đề chung:

Những cuộc hội thảo cuối năm 2001 của Chương trình nông nghiệp sinh thái đã chỉ ra rằng: Sản xuất nông nghiệp của Hương Thọ  gặp không ít khó khăn đó là _ Thiếu kỹ thuật cũng như việc áp dụng Tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế, năng suất chất lượng của một số cây trồng như Lạc, Lúa… thấp, nông dân thường sử dụng các giống cũ qua nhiều chu kỳ sản xuất, làm cho năng suất chất lượng giảm và khả năng chống chịu sâu bệnh kém. _ Việc thiếu và sử dụng không hợp lý phân hoá học trong khi nguồn phân hữu cơ tại địa phương là vô tận, việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật có bán tự do ngoài thị trường… và một số yếu tố khác  => Đã hạn chế đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp của địa phương.

Có thể kể một vài ví dụ như:

Hệ thống chăn nuôi ở địa phương có rất nhiều phân giải gia súc  (phân Trâu,  Lợn …) sản phẩm phụ nông nghiệp trong Hệ thống trồng trọt  (thân cây Lạc, Đậu xanh, Lúa….) rác thải khác (lá cây, Cỏ…..) những thứ này đã không được chế biến thành các loại phân bón chất lượng cao, phục vụ cho sản xuất, trong khi đó người dân lại cố gắng có tiền để đi mua các loại phân hoá học ở nơi khác. Điều này có 2 yếu tố kéo theo: 1. Phân gia súc và rác thải không được thu gom và xử lý gây mất vệ sinh, hiệu quả sử dụng của cây trồng không cao.        2. Đất sản xuất sẽ ngày một xấu đi do sử dụng không hợp lý phân hoá học và lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật bên cạnh đó  yếu tố quản lý đất đã không được quan tâm đúng mức.

Hiệu quả sử dụng đất thấp – cơ cấu giống cây trồng còn nghèo nàn: Có nhiều vườn, vườn đồi của các gia đình còn thiếu sự tác động đúng mức của con người dẫn đến tình trạng khai thác mang tính chất “ săn tìm lợi nhuận trước mắt – nghĩa là chỉ khai thác sức của đất bằng việc thu sản phẩm của cây trồng mà không chú ý đế sự tái tạo độ mầu mỡ và sự cân bằng sinh thái trong hệ thống sản xuất”  Cơ cấu cây trồng nghèo nàn  về chủng loại đã làm ảnh hưởng cục bộ đến sinh thái như : dịch bệnh, giá cả, mất mùa… thường nông dân đã quá quan  tâm đến một vài loại cây ăn quả cho giá trị kinh tế như Bưởi, cam…,          Giống lạc, lúa không có nhiều chủng loại, thường nông dân phụ thuộc vào yếu tố cố định nào đó như giống địa phương, hoặc từ các cơ quan nhà nước….

Trong khi đó: Chúng ta có thể trồng nhiều loại cây trên một mảnh đất và không quên chú trọng đến cây trồng chính mang tính chất hàng hoá (Bưởi Phúc Trạch, Cam Bù, Cam Chanh….. đây là ưu thế vùng) và cũng không thể phủ nhận vai trò của một số cây trồng phụ (Hồng Thạch Hà, Xoài ……) và những cây trồng có tính chất bảo vệ - cải tạo và cung cấp dinh dưỡng cho đất, làm thức ăn cho gia súc (Dứa, Cỏ Voi, cỏ Ruzi,  Lạc Dại, Đậu Triều…).

Từ những vấn đề trên:                       

Định hướng của dự án cũng như địa phương là: khắc phục những hạn chế trên bằng những thử nghiệm nhỏ, những bước đi thận trọng để củng cố những khiếm khuyết hoặc thay đổi một  hình thức sản xuất (nói cách khác là cải thiện để duy trì hay thay đổi một hệ thống cây trồng – sản xuất theo hướng bền vững về  Sinh thái, Kinh tế, Xã hội).

Ai? là người sẽ làm việc này →  Đã khẳng định không ai khác chính là những người nông dân địa phương, những nông dân có nhiều kinh nghiệm thực tế từ sản xuất, gắn bó với đồng đất, hiểu về lịch sử sản xuất ở đây. Và họ chính là những người sẽ làm hạn chế hoặc thay đổi những khó khăn trong sản xuất.

Sự  thay đổi ấy thể hiện từ những ý tưởng chung, những mục đích chung của người dân, từ đó họ đoàn kết gắn bó nhau, cùng nhau thử nghiệm một kỹ thuật mới, tiếp thu tiến bộ kỹ thuật, học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm …. Ví dụ: Câu lạc bộ, các tổ sản xuất, mạng lưới chuyên môn ….

 

 

 

 

Những tác động của dự án:

1.1 Giai đoạn khởi đầu:

- Các chuyến thăm quan – học tập mô hình canh tác ở các địa phương khác.

- Thành lập câu lạc bộ, nhóm sở thích.

- Thử nghiệm các mô hình (Kỹ thuật mới, Giống mới, chế biến phân bón……)

- Đào tạo – tập huấn kỹ thuật

=> Kết quả khả quan: Nhiều nông dân ở địa phương được tiếp cận với tiến bộ kỹ thuật, những giống mới có hiệu quả và đặc biệt bước đầu đã có sự thay đổi về quan niệm sản xuất (không sử dụng phân chuồng tươi sống, hạn chế phân hoá học, thay đổi cấp giống trong sản xuất……) Và một điểm nữa: Tính đoàn kết, chia sẻ trong quan hệ chòm  xóm thông qua việc sinh hoạt  ở các Câu lạc bộ.

=> Nhưng, vấn đề đặt ra: Sản xuất của chúng ta vẫn còn phụ thuộc nhiều vào sự điều tiết của bên ngoài, chưa phát huy hết nội lực ở từng người dân và những điều có thể có ở địa phương.

=> Vấn đề giải quyết:  Chúng ta đặt vấn đề xây dựng “nền nông nghiệp bền vững”.

Có nghĩa là gì?

Nông nghiệp bền vững là:

-         Khảo sát và học hỏi từ các Hệ sinh thái tự nhiên để vận dụng vào Hệ sinh thái nông nghiệp, hệ sinh thái đồng ruộng.

-         Kết hợp kiến thức cổ truyền, kiến thức bản địa với kiến thức khoa học công nghệ tiến bộ.

Nông nghiệp bền vững: Thúc đẩy, phát huy nội lực, lòng tự tin sáng tạo ở địa phương và cùng nhau giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong sản xuất nông nghiệp ở địa phương. Chủ động quản lý hoạt động sản xuất ở cấp độ hộ gia đình và nhóm hộ.

 

 

1.2 Và những ý tưởng về các Tổ chức nông dân

1.2.1 Mục đích:

Tham gia trong việc lựa chọn và trắc nghiệm sản xuất nhằm giải quyết những cản trở, khó khăn → tạo điều kiện tăng thu nhập cho chính họ và những người xung quanh.

Hướng đến, tham gia xây dựng một nền nông nghiệp bền vững (có thể thay đổi những quan niệm sản xuất không còn phù hợp)

Nâng cao năng lực tổ chức – sản xuất, tăng cường mối quan hệ làng xóm, quan hệ tiếp cận với các tác nhân ngành.

=>> Tại sao? Trong điều kiện nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, mang tính tự cung – tự cấp, sự hợp tác trong sản xuất chưa được coi trọng. Vậy chúng ta có thể đặt vấn đề  “Sản xuất hợp tác”

Có điều kiện nâng cao kiến thức về tiến bộ kỹ thuật mới, cũng như trao đổi rút ra nhiều bài học kinh nghiệm  trong sản xuất.

Tập trung vốn, lao động giúp mua được các tư liệu sản xuất hiện đại hơn, hiệu quả sản xuất cao hơn.

Dịch vụ đầu vào cho sản xuất: Giống, vật tư nông nghiệp với số lượng lớn giúp giảm giá thành, đảm bảo chất lượng. Thông qua các tổ chức nông dân có thể mở rộng mối quan hệ với các tác nhân cung cấp dịch vụ, đặt mối quan hệ sản xuất với các tác nhân cung cấp dịch vụ đầu vào, đặt mối quan hệ sản xuất, nghiên cứu – thử nghiệm… Ví dụ Trạm giống cây  trồng, vật nuôi, Viện nghiên cứu, trường Đại học…….

Sản lượng đầu ra lớn thuận lợi cho việc chế biến và tiêu thụ sản phẩm, không bị tư thương ép giá, quan hệ tốt với khách hàng đảm bảo đầu ra cho sản phẩm.

Thông qua các tổ chức nông dân – với sản lượng sản phẩm lớn có thể dễ dàng tìm kiếm thị trường.

 

 

 

1.2.2 Đề nghị hình thức tổ chức nông dân trong được bắt đầu trong giai đoạn 2.

Tổ chức

Nội dung

Tổ làm vườn

-         Có nhiều thành phần tham gia – Phạm vi rộng về vị trí, phương tiện sản xuất

-         Hợp tác, thử nghiệm, sản xuất chia sẻ quyết định – bảo vệ quyền lợi

-         Trao đổi kinh nghiệm, kỹ thuật.

-         Chung một mục đích, nguyên tắc hoạt động – quy định.

Mạng lưới kỹ              thuật viên

-         Trao đổi thông tin là chính.

-         Cung cấp kỹ thuật, hỗ trợ tổ chức

-         Các thành viên tham gia không nhất thiết phải có chung một mục đích.

Tổ sản xuất

-         Có giới hạn tham gia, vị trí địa lý

-         Hợp tác để thử nghiệm  - sản xuất, trao đổi kinh nghiệm kỹ thuật.

-         Cung cấp dịch vụ sản xuất.

-         Có chung một mục đích, nguyên tắc hoạt động, quy định hay điều lệ hoạt động cho riêng mình.

 

1.2.3 Các dịch vụ được cung cấp từ các tổ chức nông dân.

=> Hoạt động về dịch vụ:

Dịch vụ về thông tin – kỹ thuật: Trong giai đoạn đầu tập trung ở việc tập huấn kỹ thuật, Phương pháp điều hành, lập kế hoạch hoạt động cho Ban quản lý tổ.

Xây dựng các mô hình thử nghiệm: Chế biến phân bón, giống mới, kỹ thuật canh tác …. để cho nông dân tham  quan, học tập và trao đổi kinh nghiệm.

Dịch vụ cung ứng vật tư cho sản xuất: Cung ứng các loại giống cây trồng có năng suất – chất lượng, phù hợp với điều kiện sản xuất tại địa phương.

=> Sự khác nhau về vị trí  - thời gian: cũng là yếu tố sẽ làm thay đổi các dịch vụ trong tổ chức.

- Khác nhau ở các xóm

- Khác nhau ở thời gian

1.2.4 Lợi ích của các tổ chức nông dân mang lại

=> Lợi ích chung của các hình thức tổ chức nông dân mang lại:

 Các tổ chức nông dân giúp cho hội viên sản xuất và tiêu thụ có hiệu quả hơn và các dịch vụ đầu vào với giá rẻ hơn.

Thúc đẩy sản xuất phát triển, khắc phục khó khăn gặp phải trong quá trình sản xuất, mà từng cá nhân không khắc phục được.

Thông qua các tổ chức nông dân, mở rộng mối quan hệ với các tác nhân cung cấp dịch vụ đầu vào, đầu ra… Các cơ quan nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, đối tác tiêu thụ.

Các tổ chức nông dân có thể chủ động thực hiện việc liên kết, mở rộng sản xuất và thị trường tiêu thụ sản phẩm

=> Lợi ích về kỹ thuật:

Thông qua các tổ chức này các thành viên trong nhóm đễ được tiếp cận với các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới. Trao đổi kinh nghiệm sản xuất, nâng cao trình độ chuyên môn cho các thành viên.

Chất lượng sản phẩm được nâng cao thông qua các cam  kết cùng nhau giúp đỡ và giám sát lẫn nhau trong việc thực hiện quy trình kỹ thuật

=> Lợi ích về kinh tế

Các thành viên nâng cao được thu nhập trên cùng một đơn vị đồng vốn đầu tư và thời gian cũng như công sức bỏ ra.

Giảm được giá thành đầu vào của sản xuất, tiếp cận thông tin, giá cả thị trường nhanh hơn, có thể tạo được vùng sản xuất hàng hoá tập trung, dễ tiếp cận thị trường.

Qua các tổ chức này, các hộ nông dân có thể hỗ trợ nhau về kinh tế, đặc biệt là các hộ khó khăn (hộ nghèo), được vay vốn của các tổ chức để phát triển sản xuất.

=> Lợi ích về xã hội

Nâng cao uy tín, vị trí xã hội của từng thành viên

Tăng cường mối quan hệ giữa các cá nhân khi tham gia tổ chức.

Tạo ra một thể chế mới góp phần phát triển nông nghiệp của địa phương.

 

-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

© Bản quyền thuộc về Dự án giảm nghèo khu vực Tây Nguyên
Địa chỉ: Tầng 16, Tòa nhà Icon 4, 243A Đê La Thành, Đống Đa, Hà Nội
Điện thoại: 04.62671199 - Fax: 04.62671199
E-Mail: info.gntn@mpi.gov.vn